Exchange Server 2010 với những kiến trúc lưu trữ và công nghệ mới đã góp phần cải thiện phần nào các hạn chế của Exchange Server rtrong các phiên bản trước đồng thời đây cũng là tiền đề mở ra cho Exchange Server 2010 những khả năng mới về HA giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được nhiều chi phí. Tuy nhiên, những khái niệm về HA trong phiên bản Exchange 2007 đã hoàn toàn được thay thế mới.
Ngày 17/11 vừa qua, Microsoft Việt Nam đã chính thức công bố việc ra mắt sản phẩm Exchange Server 2010 bản RTM (tức là phiên bản chính thức dành cho thị trường). Phiên bản này có nhiều tính năng mới thú vị đặc biệt là việc thiết kế lại những tính năng có liên quan đến việc đảm bảo sự liên tục cao nhất cho hoạt động của hệ thống Exchange Server để người dùng có thể truy cập
Các tính năng của Exchange được chia thành 5 server role như sau: Mailbox, client Access, Hub Transport, Edge Transport, và Unifed Messaging . Ở đây ta chỉ đề cập đến kiến trúc trong Mailbox Server Role, cụ thể là các công nghệ được sử dụng để lưu trữ trong Exchange và luồng dữ liệu mail giữa Exchange Server 2010 và Mailbox Server.

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
Exchange Server 2010 sử dụng một cơ sở dữ liệu chính để lưu trữ dữ liệu (ở đây là mail và message) . Cơ sở dữ liệu này là một hệ thống giao dịch được xây dựng trên công nghệ ESC (Extensible Storage Engine (ESE), thường được nhắc đến như là JET database. Mặc định, khi cài đặr Exchange server 2010 Mailbox Server, thì database này được lưu trữ trong C:\Program Files\Microsoft\Exchange Server\V14\Mailbox\Mailbox Database <
(số ngẫu nhiên này được sinh ra nhằm bảo đảm tính duy nhất cho database trong hệ thống gồm nhiều Exchange Server).
Một số file cấu hình mặc định trong Exchange server 2010 Mailbox Server:
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
- “mailbox database 0242942819.edb”
- E00.log
- E00000003a.log, E000000003b.log, E00000003c.log, etc.
- E00.chk
- E00res00001.log and E00res00002.log
- E00tmp.log
- Tmp.edb
Notes: Ví dụ, số ngẫu nhiên ở đây là 0242942819, do đó tên của Mailbox Database là “mailbox database 0242942819.edb.”
Tất cà tên file cấu hình ở trên đều bắt đầu với 3 kí tự: E00; đây được gọi là database prefix. Database đầu tiên trong Exchange có tiên tố là E00, kế tiếp sẽ là E01 và cứ như thế Exchange sẽ đặt tên tương ứng cho các database.
Luồng dữ liệu giữa Exchange Server và Mailbox Database
Đối với Exchange Server 2010, dữ liệu được xử lí từng block 32 KB (còn gọi là Page), Exchange Server 2007 sử dụng 8KB pages, Exchange Server 2003 and earlier sử dụng 4KB pages. Phần bộ nhớ được sử dụng để ghi cac trang nhớ này còn được gọi là "cache buffers". Quá trình này diễn ra theo 4 bước sau:

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
- Dữ liệu mail được xử lí theo từng trang nhớ.
- Những trang được cập nhật sẽ được ghi lại vô file log
- Nếu trang nhớ không còn được sử dụng bởi Exchange thì nó sẽ được ghi xuống database
- File checkpoint sẽ được cập nhật lại để ánh xạ các trang mới hay vừa được cập nhật được ghi xuống database.
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
Extensible Storage Engine (ESE)
Như đã đề cập ở trên, đây là Database Engine được sử dụng trong Exchange Server 2010. ESE bao gồm nhiều phiên bản như sau:
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
- ESE97 cho Exchange Server 5.5
- ESE98 cho Exchange Server 2000/2003
- ESENT cho Active Directory
- ESE cho Exchange Server 2007 và Exchange Server 2010.
ESE là một database engine cấp thấp, tức là nó hiểu tất cả các kiểu dữ liệu cơ sở như: short, string, long, longlong, systime, etc., nhưng nó không hiểu các kiểu dữ liệu melta date hay schema. Đây là điểm trái ngược so với Microsoft SQL Server .
Mailbox Database
File “mailbox database 0242942819.edb” là kho lưu trữ dữ liệu chính của Exchange Server 2010 Mailbox Server role. Thay vì trong Exchange Server 2007, file này được gọi là “mailbox database.edb”, trong khi đó đối với Exchange 2003 và Exchange 2000, bao gồm 2 files: “priv1.edb và priv1.stm”. Trong Exchange Server 2010, một Mailbox Server có thể chứa tới 100 databases.
Theo Microsoft đề nghị, kích cỡ file lớn nhất của Mailbox Database trên Exchange
Server 2010 là 2TB. So với giới hạn 200GB trong Exchange 2007 (sử dụng Continuous Cluster Replication) thì đây đã là sự đột phá đáng kể. Thế nhưng nên ngớ rằng điều tiên quyết để dùng kích cỡ này là bạn phải cấu hình nhiều database copies nhằm đạt được High Availability.
Trung Nghĩa (Theo Technet)
|